Với một hệ thống điện mặt trời phục vụ nhu cầu tự dùng, phần điện được tạo ra và sử dụng ngay tại chỗ giúp giảm lượng điện phải mua từ lưới.
Có thể hiểu đơn giản:
Giá trị điện tiết kiệm = Sản lượng điện mặt trời tự sử dụng × Giá điện lưới tương ứng
Ví dụ, một hệ thống tạo ra 10.000 kWh mỗi năm và có 8.000 kWh được sử dụng trực tiếp tại chỗ.
Nếu giá trị trung bình của lượng điện lưới được thay thế là 2.500 đồng/kWh thì phần điện này tương đương khoảng:
8.000 × 2.500 = 20 triệu đồng/năm
Nếu trong tương lai giá trị điện lưới tương ứng tăng lên 3.000 đồng/kWh, với điều kiện sản lượng và tỷ lệ tự dùng không đổi, giá trị tiết kiệm sẽ tăng thành:
8.000 × 3.000 = 24 triệu đồng/năm
Như vậy, cùng một hệ thống điện mặt trời nhưng giá trị kinh tế của lượng điện tạo ra có thể thay đổi theo giá điện lưới.
Trong nhiều trường hợp, có thể, đặc biệt với hệ thống có tỷ lệ tự tiêu thụ cao.
Nguyên nhân khá đơn giản: khi giá điện mua từ lưới tăng, mỗi kWh điện mặt trời được sử dụng trực tiếp giúp tránh mua một kWh điện có giá trị cao hơn.
Giả sử tổng chi phí đầu tư ban đầu của một hệ thống là 120 triệu đồng.
Nếu hệ thống tạo ra giá trị tiết kiệm khoảng 20 triệu đồng mỗi năm, phép tính hoàn vốn đơn giản sẽ là:
120 triệu / 20 triệu = khoảng 6 năm
Nếu giá điện tăng khiến giá trị tiết kiệm trung bình đạt 24 triệu đồng mỗi năm:
120 triệu / 24 triệu = khoảng 5 năm
Đây chỉ là ví dụ minh họa, chưa tính suy giảm công suất tấm pin, chi phí bảo trì, thay thế thiết bị, lãi suất vốn, biến động sản lượng hoặc giá trị tiền theo thời gian.
Điều quan trọng cần hiểu là: giá điện lưới càng cao thì giá trị của phần điện mặt trời tự sử dụng thường càng lớn.
Một sai lầm phổ biến trong các bảng tính hoàn vốn là giả định giá điện sẽ tăng đều, chẳng hạn 5% hoặc 10% mỗi năm trong suốt vòng đời hệ thống.
Trên thực tế, giá điện chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất điện, nhiên liệu, cơ cấu nguồn điện, đầu tư lưới điện, chính sách điều hành và cơ chế giá của từng nhóm khách hàng.
Tại Việt Nam, cơ chế điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân cũng có thể được sửa đổi theo từng giai đoạn. Năm 2026, Chính phủ tiếp tục sửa đổi quy định liên quan đến cơ chế và thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân.
Do đó, khi lập bài toán tài chính cho một hệ thống có tuổi thọ hàng chục năm, việc sử dụng duy nhất một giả định giá điện có thể khiến kết quả trở nên quá lạc quan hoặc quá thận trọng.
Cách hợp lý hơn là xây dựng nhiều kịch bản khác nhau.
Một mô hình hoàn vốn tương đối thận trọng có thể xem xét ba trường hợp.
Kịch bản 1 – Giá điện gần như ổn định: Đây có thể xem là trường hợp bảo thủ để kiểm tra xem hệ thống còn hợp lý hay không nếu giá điện không tăng đáng kể.
Kịch bản 2 – Giá điện tăng vừa phải: Giá điện được giả định điều chỉnh theo một tốc độ nhất định qua từng năm. Đây thường là kịch bản dùng để quan sát tác động của biến động giá trong dài hạn.
Kịch bản 3 – Giá điện tăng mạnh hoặc cơ cấu biểu giá thay đổi: Kịch bản này dùng để đánh giá độ nhạy của dự án, chứ không nên coi là dự báo chắc chắn về tương lai.
Nếu cả ba kịch bản vẫn cho kết quả tài chính chấp nhận được, bài toán đầu tư sẽ có mức độ ổn định cao hơn so với việc chỉ dựa vào một con số hoàn vốn duy nhất.
Hai hệ thống điện mặt trời có cùng công suất và cùng sản lượng điện nhưng thời gian hoàn vốn vẫn có thể rất khác nhau.
Nguyên nhân nằm ở tỷ lệ điện được sử dụng trực tiếp tại chỗ.
Ví dụ, một hệ thống sản xuất 15.000 kWh/năm.
Trường hợp A sử dụng trực tiếp 12.000 kWh, tương đương tỷ lệ tự dùng 80%.
Trường hợp B chỉ sử dụng trực tiếp 6.000 kWh, tương đương 40%.
Dù hai hệ thống tạo ra cùng lượng điện, giá trị kinh tế của chúng có thể khác nhau đáng kể vì phần điện tự dùng thường gắn trực tiếp với lượng điện lưới được tránh mua.
Đó cũng là lý do khi đánh giá hiệu quả điện mặt trời không nên chỉ nhìn vào câu hỏi:
“Một năm sản xuất được bao nhiêu kWh?”
Mà cần hỏi thêm:
“Trong số đó, bao nhiêu kWh thực sự được sử dụng tại chỗ?”
Không chỉ mức giá trung bình, cách tính giá điện cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của điện mặt trời.
Đối với hộ gia đình sử dụng biểu giá theo bậc, lượng điện mặt trời tạo ra có thể giúp giảm lượng điện phải mua ở những bậc tiêu thụ cao. Trong trường hợp đó, giá trị của một kWh điện mặt trời không nhất thiết bằng giá điện trung bình trên toàn bộ hóa đơn.
Đối với một số khách hàng sản xuất, kinh doanh áp dụng giá điện theo thời gian sử dụng, giá trị của điện còn phụ thuộc vào thời điểm phát điện và thời điểm phụ tải hoạt động.
Một kWh điện được tạo ra đúng lúc cơ sở đang sử dụng nhiều điện và giá điện lưới cao có thể mang lại giá trị kinh tế khác với một kWh được tạo ra khi nhu cầu sử dụng thấp.
Vì vậy:
1 kWh điện mặt trời không phải lúc nào cũng có cùng giá trị kinh tế.
Giá trị thực tế phụ thuộc vào thời điểm phát điện, mức tiêu thụ và biểu giá điện áp dụng.
Nếu hệ thống tạo ra nhiều điện vào ban ngày nhưng phụ tải không sử dụng hết, phần còn lại trở thành điện dư.
Khi đó bài toán tài chính phải tách thành ít nhất hai phần:
Điện tự dùng: tạo giá trị thông qua việc giảm lượng điện mua từ lưới.
Điện dư: giá trị phụ thuộc vào cơ chế, điều kiện và mức giá mua điện dư đang áp dụng.
Tại Việt Nam, khung pháp lý cho điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đã thay đổi trong những năm gần đây. Nghị định 58/2025/NĐ-CP thay thế Nghị định 135/2024/NĐ-CP từ ngày 3/3/2025.
Đến năm 2026, Nghị định 243/2026/NĐ-CP tiếp tục sửa đổi một số nội dung của Nghị định 58/2025/NĐ-CP. Theo thông tin Chính phủ công bố, quy định mới đã mở rộng tỷ lệ sản lượng điện dư có thể bán lên lưới trong những trường hợp đáp ứng điều kiện pháp lý tương ứng.
Điều này cho thấy một điểm quan trọng khi tính hoàn vốn:
Không nên giả định cơ chế mua điện dư hiện tại sẽ giữ nguyên trong toàn bộ vòng đời của hệ thống.
Đối với hệ thống hướng đến tự sản xuất, tự tiêu thụ, tỷ lệ điện sử dụng tại chỗ vẫn là một thông số cần được phân tích kỹ.
Thay vì lấy hóa đơn tiền điện hiện tại rồi giả định các điều kiện sẽ giữ nguyên trong nhiều năm, nên bắt đầu từ dữ liệu sử dụng điện thực tế.
Cần xác định phụ tải sử dụng theo thời gian, lượng điện tiêu thụ vào ban ngày, công suất hệ thống phù hợp, sản lượng dự kiến và tỷ lệ tự dùng.
Sau đó mới xây dựng các kịch bản về giá điện.
Một mô hình thận trọng có thể tính đồng thời trường hợp giá điện không đổi, tăng chậm và tăng nhanh. Đồng thời cần tính đến sự suy giảm sản lượng theo thời gian và các chi phí có thể phát sinh trong vòng đời hệ thống.
Nếu có điện dư hoặc hệ thống lưu trữ, hai yếu tố này nên được tính riêng thay vì gộp toàn bộ sản lượng điện mặt trời vào cùng một mức giá.
Nếu giá điện tiếp tục thay đổi trong tương lai, bài toán hoàn vốn điện mặt trời chắc chắn cũng sẽ thay đổi.
Trong trường hợp giá điện lưới tăng, phần điện mặt trời được sử dụng trực tiếp tại chỗ thường có giá trị kinh tế cao hơn và thời gian hoàn vốn có thể được rút ngắn. Tuy nhiên, mức độ thay đổi còn phụ thuộc vào biểu giá điện, tỷ lệ tự dùng, thời điểm sử dụng điện, lượng điện dư, chi phí hệ thống và nhiều yếu tố kỹ thuật khác.
Chia sẻ nhận xét về bài viết